Thứ Hai, 10 tháng 12, 2012

Tự tỉnh

Người ta tối đến,trước khi ngủ thử kiểm xem xét trong một ngày
Ăn ở với cha mẹ đã hết lòng chưa?
Đối đãi với kẻ dưới đã thể tất chưa?
Xử với anh em đã thỏa thuận chưa?
Đối với vợ con đã yêu quí chưa?
Chơi với bạn bè đã hay tránh kẻ dở gần người hiền chưa?
Nói ra câu gì,đã hay không thẹn với lương tâm chưa?
Làm công việc gì,đã không trái với công lý chưa?
Đãi với người ngoài đã không hay thất lễ chưa?
Hết thảy việc gì,việc gì cũng nghĩ để xử cho chu đáo ,ngõ hầu mới xứng đáng làm người mà không xấu hổ.
                              [Sưu tầm từ Từ Mi Vân]

Viêm gan B có thể chữa khỏi bằng bài thuốc dân gian

Tôi có biết một phụ nữ quê ở Hà tiên ,tỉnh Kiên Giang đã bị viêm gan siêu vi B nhiều năm.Bà ta nay xét nghiệm máu đã không còn thấy virus siêu vi B trong máu.Bà ta biết mình bị viêm gan nhưng nhà thì nghèo ,làm ngày nào ăn ngày đó.Rất may,bà ta được một người lạ chỉ cho phương thuốc vừa uống nước sắc và vừa uống thuốc viên.

Về nấu nước sắc,4 chén nấu còn 1 chén,ngày uống hai lần.Thành phần gồm:
_Chó đẻ
_Mần ri cây hoặc dây
Thù lù
_Dứa gai
Mỗi thứ một nhúm đã phơi khô.
Về thành phần của viên,như sau:
_Gừng đâm nhỏ và nát vắt lấy nướcHạt hắc sửu(họ bìm bìm bông tím) tán nhỏ và mịn.
Chế biến:  Dùng nước gừng nhào trộn với bột hắc sửu vo viên bằng hạt đậu xanh .
Cách dùng: Uống mỗi lần 15 viên cùng nước sắc.Nếu uống vào không xổ độc được thì thì tăng lên 3 hay 4 viên.
                     (Bài thuốc dân gian do ông Lâm Tài Kiết ở Khu phố Hòa Lập
                      Thị trấn Kiên Lương Tỉnh Kiên Giang cung cấp)

Hai Hồ Nước

Ở Palestin có 2 hồ nước  lớn.Hồ thứ nhất là Hồ Chết vì không một sinh vật nào có thể sống trong lòng hồ.Hồ thứ hai là Galilé,một khu du lịch quốc tế nổi tiếng.Cả hai hồ đều nhận nguồn nước từ sông Jordan.Nước sông Jordan chảy vào Hồ Chết.Hồ Chết đón nhận và giữ lại cho riêng mình nên nước trong Hồ Chết trở nên mặn chát.Hồ Galilé cũng đón nhận nguồn nước từ sông Jordan rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch nhờ vậy mà nước trong hồ này luôn sạch mang lại sự sống cho sinh vật hồ,cho cây cối,muông thú và con người.
Vâng 1 ánh lửa chia xẻ là 1 ánh lửa lan tỏa.Bàn tay có mở rộng ban tặng,tâm hồn mới tràn ngập vui sướng.Đôi môi hé mở mới nhận đựoc nụ cười.
                             (Sưu tầm trên internet)

Giai thoại"Bài thơ Vịnh bèo"

Năm Đinh Dậu, nhà Minh mư­ợn cớ phò Lê diệt Mạc hòng thôn tính nư­ớc ta, sai đô đốc Cừu Loan và tư­ớng Mao Bá Ôn đem quân hùng hổ tiến vào cửa ải Pha Luỹ. Chúng gửi chiến thư­ cho triềuđình Mạc, bảo phải đầu hàng thì mới tránh khỏi hoạ. Kèm theo th­ư là một bài thơ Bèo thách hoạ, d­ưới ký tên Mao Bá Ôn.
Tuỳ điền trục thuỷ mạc ­ương châm
Đáo xứ khan lai thực bất thâm
Không hữu căn miêu không hữu diệp
Cảm sinh chi tiết, cảm sinh tâm
Đồ chi tụ sứ ninh chi tán
Đản thức phù thời ná thứ­c trầm
Đại để trung thiên phong khí ác
Tảo quy hồ hải tiện nan tầm.
(Mọc theo ruộng n­ước hóp như­ kim
Trôi dạt lênh đênh chẳng đứng im
Nào có gốc sâu, nào có lá
Dám sinh cành nhánh, dám sinh tim
Tụ rồi đã chắc không tan tác
Nổi đó nào hay chẳng đắm chìm
Đến lúc trời cao bùng gió dữ
Quét về hồ bể hẳn khôn tìm)

Vịnh bèo nh­ưng dụng ý của Mao Bá Ôn là coi khinh nư­ớc Nam sức yếu lực nhỏ, mong manh trôi dạt nh­ư cánh bèo mặt n­ước lênh đênh, chỉ một cơn gió là tan tác. Vua Mạc Đăng Dung giao cho Giáp Hải lên tận biên ải. Trong khi giao tiếp, Trạng Giáp Hải đã hoạ đáp:
Cẩm lâm mật mật bất dung châm
Đái diệp liên căn khởi kế thâm
Thư­ờng dữ bạch vân tranh thuỷ diện
Khẳng giao hồng nhật truỵ ba tâm
Thiên trùng lãng đả thành nan phá
Vạn trận phong xuy vĩnh bất trầm
Đa thiểu ngư­ long tàng giá lý
Thái công vô kế hạ câu tầm.
(Ken dầy vải gấm khó luồn kim
Rễ lá liền nhau, động vẫn im
Tranh với bóng mây che mặt n­ước
Chẳng cho tia nắng rọi xuyên tim
Sóng dồi muôn lớp thư­ờng không vỡ
Gió táp ngàn cơn cũng chẳng chìm
Nào cá nào rồng trong ấy ẩn
Cần câu Lã Vọng biết đâu tìm).

Trong bài thơ hoạ, thấy lời lẽ mạnh mẽ, Mao Bá Ôn và Cừu Loan bàn bạc với nhau, nhận định rằng nư­ớc Nam có thực lực, ch­ưa thể nuốt trôi đư­ợc, lặng lẽ có trật tự cho lui binh về.
Sưu tầm

Bản dịch Bạch Đằng Giang Phú

Khách có kẻ:
Giương buồm giong gió chơi vơi,
Lướt bể chơi trăng mải miết.
Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương,
Chiều lần thăm chừ Vũ huyệt.
Cửu Giang, Ngũ Hồ,
Tam Ngô, Bách Việt.
Nơi có người đi,
Đâu mà chẳng biết.
Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều,
Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết.
Bèn giữa dòng chừ buông chèo,
Học Tử Trường chừ thú tiêu dao.
Qua cửa Đại Than,
Ngược bến Đông Triều,
Đến sông Bạch Đằng,
Thuyền bơi một chiều.
Bát ngát sóng kình muôn dặm,
Thướt tha đuôi trĩ một màu.
Nước trời một sắc,
Phong cảnh ba thu
Bờ lau san sát,
Bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gãy,
Gò đầy xương khô.
Buồn vì cảnh thảm,
Đứng lặng giờ lâu.
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu.
Bên sông bô lão hỏi,
Hỏi ý ta sở cầu.
Có kẻ lê gậy chống trước,
Có người thuyền nhẹ bơi sau.
Vái ta mà thưa rằng:
“Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng Nhị Thánh bắt Ô Mã,
Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao”.
Đương khi ấy:
Thuyền tàu muôn đội,
Tinh kì phấp phới.
Hùng hổ sáu quân,
Giáo gươm sáng chói.
Trận đánh được thua chửa phân,
Chiến luỹ bắc nam chống đối.
Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,
Bầu trời đất chừ sắp đổi.
Kìa:
Tất Liệt thế cường,
Lưu Cung chước dối.
Những tưởng gieo roi một lần,
Quét sạch Nam bang bốn cõi.
Thế nhưng:
Trời cũng chiều người,
Hung đồ hết lối
Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay,
Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi.
Đến nay sông nước tuy chảy hoài,
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi.
Tái tạo công lao,
Nghìn xưa ca ngợi.
Tuy nhiên:
Từ có vũ trụ,
Đã có giang san.
Quả là trời đất cho nơi hiểm trở,
Cũng nhờ nhân tài giữ cuộc trị an.
Hội nào bằng hội Mạnh Tân, có vương sư họ Lã,
Trận nào bằng trận Duy Thuỷ, có quốc sĩ họ Hàn.
Khi trận Bạch Đằng mà đại thắng,
Bởi đại vương coi thế giặc nhàn.
Tiếng thơm còn mãi,
Bia miệng không mòn.
Đến chơi sông chừ ủ mặt,
Nhớ người xưa chừ lệ chan.
Rồi vừa đi vừa ca rằng:
“Sông Đằng một dải dài ghê,
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông.
Những phường bất nghĩa tiêu vong,
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh!”
Khách cũng nối tiếp mà ca rằng:
“Anh minh hai vị thánh quân,
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.
Giặc tan muôn thuở thanh bình,
Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao.”
         Trương Hán Siêu

Thái sư Lê Văn Thịnh và cuộc chiến Tống -Lý

Năm 1076,nhà Tống sai Tuyên phủ sứ Quảng Nam(tên lộ của nhà Tống,sau chia thành Quảng Nam Đông lộ,tức tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây Nam lộ,khu tự trị Quảng Tây ngày nay của Trung Quốc) là Qúach Qùi làm Chiêu thảo sứ,Triệu Tiết làm phó,đem quân 9 tướng,hợp với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn Đại Việt để trả thù việc Lý Thường Kiệt và Tông Đản đã đem quân tấn công các châu Ung,Khâm,Liêm của nhà Tống năm trước để phủ đầu mưu đồ xâm lược của nhà Tống.Trên sông Như Nguyệt(Sông Cầu) Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến ở bở Nam đánh tan được.Qúach Qùi lui quân,nhưng lại chiếm lấy châu Quảng Nguyên(Cao Bằng,Lạng Sơn).

Năm 1078,mùa xuân ,tháng giêng,vua Lý Nhân Tông sai Đào Tống Nguyên đem biếu nhà Tống 5 con voi thuần,xin trả lại các châu Quảng Nguyên(mà nhà Tống đổi lại là Thuận châu),nhưng chưa trả những đất đai mà thổ dân dâng cho nhà Tống..
Tháng 6 năm 1084 ,khi đó là Thị lang Bộ Binh,Lê Văn Thịnh đến trại Vĩnh Bình cùng với người Tống bàn việc cương giới.Tuy binh lực nhà Tống đã bị Lý Thường Kiệt đánh thua tan tác,song vua quan nhà Tống chỉ đồng ý trả lại đất đai do nhà Tống xâm lược tại biên thùy.Còn đất đai do thổ dân dâng nộp để thần phục nhà Tống là hai động Vật Dương và Vật Ác,họ không chịu trả lại.Viện lý những đất ấy là của thổ dân "tự ý" đem sát nhập vào nhà Tống chứ không phải là họ chiếm Lê Văn Thịnh đã trả lời sứ giả nhà Tống là Thành Trạc:
Đất thì có chủ,các viên quan giữ đất ấy đem nộp cho người khác và trốn đi thì đất ấy thành vật ăn trộm của chủ.Sự chủ giao mà lấy trộm đã không tha thứ được mà trộm của hay" tàng trữ" thì luật pháp cũng không cho phép,huống chi nay lại mang đất lấy trộm dâng để làm dơ bẩn sổ sách nhà vua.
Đại diện cho Đại Việt,Lê Văn Thịnh đã trả lời một cách cứng cỏi,đầy lập luận.Đối với luật pháp nước nào cũng vậy,khi nhận môt vật gì để canh giữ,nếu đem vật đó bán và hủy bỏ đi,tất nhiên phải có tội.Trong trường hợp này các thổ dân-chỉ là những người được vua tin dùng,cho cai quản các châu ở nơi biên ải xa xôi.Việc tự tiện đem đất đai dâng cho nhà Tống để xin thần phục,xâm phạm vào lãnh thổ cũa Đại Việt cũng như việc nhà Tống chiếm giữ đất ấy không thể là hợp pháp, minh bạch.
Luận cứ trên cho thấy nền pháp luật thời Lý đã có những bước tiến đáng kể nên Lê Văn Thịnh đã phân biệt rõ ràng các khái  niệm mà ngày nay gọi là khế ước ủy nhiệm,ký thác hay quyền sở hữu.
Nhà Tống cuối cùng phải trả lại 6 huyện 3 động.Người Tống có thơ rằng:
Nhân tham Giao Chỉ tượng
Khướt thất Quảng Nguyên kim
Tạm dịch:
Người tham voi Giao Chỉ
Bỏ mất vàng Quảng Nguyên
Năm 1085,Lê Văn Thịnh làm Thái sư dưới triều vua Lý Nhân Tông.
                              (Nguồn Wikipedia)

Thuốc phòng bệnh tai biến

1/Hạnh nhân 10g
  2/Chi tử 10g
  3/Đào nhân 10g
  4/10 hạt gạo nếp
  5/10 hạt tiêu
  6/3 lòng trắng trứng gà ta
Cách dùng:Tất cả giã,tối đắp để vậy ngủ qua đêm.
Kết quả:Nhìn gân bàn chân màu xanh Cửu long là tốt.
Chú ý:
   * Nam :Đắp chân trái.
   *Nữ:Đắp chân phải.
Làm một lần duy nhất trong đời…
             (Tài liệu này thỉnh từ phòng chẩn trị
    YHDT xã Bình Thủy .ĐT:076.671008 )