Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2011

Cụ Dẹo(2)

Sinh trưởng trong một gia đình công chức làm việc cho Pháp ở Sở Hỏa xa Đông Dương..Cha tôi gần như hội đủ các điều kiện để trở thành một học sinh trường Pháp...Học tiểu học ở Gò Vấp đến năm 13 tuổi cha tôi đã lấy bằng Primaire ở trường Pétrus Trương Vĩnh Ký.Do trường bị liệng bom,trường dời về Mỹ Tho nên cha tôi được gia đình cho học nội trú tại đây với chiếc xe đạp cọc cạch chở theo rương quần áo,sách vở.Học ở trường Mỹ Tho không được bao lâu.Vào một đêm tối trời,cả đám học sinh cùng cha tôi bị một toán quân Nhật với súng lăm lăm trên tay vực dậy từ nơi ngủ trọ bắt đẩy xe lương thực cho chúng....Nhật-Pháp bắn nhau ngay trong đêm ấy,đêm 9/3/1945.

Cuộc đối đầu tất yếu Nhật-Pháp nổ ra bất ngờ đã đẩy người Việt vào một trận tuyến mới,một trận tuyến nắm tay nhau thay súng là chính.Chiến cuộc Nhật-Pháp đã gây ra một khủng hoảng chính trị sâu sắc,nạn đói ghê gớm tạo ra điều kiện chín muồi cho hoạt động của các phong trào yêu nước,trong đó có phong trào TNTP ở hãng nước mắm Cá Bạc Gò Vấp.

Chiến tranh nổ ra khắp nơi,trường học đóng cửa,cha tôi lại từ Mỹ Tho về Gò Vấp tham gia TNTP.Thời gian không lâu sau,cha tôi được tổ chức phân công trong một tổ phá hoại thuộc Chi đội 6 phá hoại có nhiệm vụ đánh phá Cầu Đúc(Lái Thiêu).Cầu này trước đây là một cây cầu đúc bị phá hoại và Nhật làm lại bằng gỗ to.

Trời tối đen như mực,chiếc thuyền nhỏ chở tổ ba người lặng lẽ chèo từ những con rạch chằng chịt giữa rừng lá dừa nước về con rạch lớn băng qua cầu.Nhiệm vụ của cha tôi là giữ cho con cúi đủ lửa để châm ngòi nổ cháy chậm phá cầu.Chỉ một tia lửa phát sáng trong đêm để địch phát hiện là nhiệm vụ bất thành,chưa kể đến việc có thể hy sinh.

Nhiệm vụ thành công,bọn Nhật hai bên đầu cầu nhớn nhác,bật đèn pha chiếu sáng khu vực quanh cầu,đèn pha lia ngang dọc trên sông và bắn súng vào những chỗ khả nghi..Tổ công tác đã an toàn mất hút trong đêm bóng đêm để bắt đầu cho lần công tác tới.

Một hình ảnh thu nhỏ của xâm lược và chống xâm lược ở Việt Nam thời ấy.

Cụ Dẹo(1)

Ngày 21/04/1945 Tổng đốc Nam kỳ Minoda đã cho phép thành lập phong trào Thanh Niên Tiền Phong(TNTP) như một nòng cốt của tổ chức Hướng đạo Việt Nam và Tổng hội sinh viên Đông Dương.Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch được cử làm Chủ tịch Hội đồng quản trị Phong trào.Phong trào đã nhanh chóng tổ chức các hoạt động cứu trợ nạn nhân do các cuộc oanh tạc của quân Đồng minh và giúp đỡ đồng bào miền Bắc đang bị nạn đói lúc đó.

Do có tôn chỉ rộng rãi,không phân biệt chính trị ,tôn giáo nên TNTP đã nhanh chóng trở thành phong trào mạnh nhất ở Nam Kỳ và lan rộng đến Trung Kỳ.Sau 2 tháng vận động,ngày 1/6/1945 tổ chức TNTP chính thức ra mắt.

Các thủ lĩnh phong trào gồm có Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch,Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát,Nha sĩ Nguyễn Văn Thủ,Luật sư Thái Văn Lung..và các sinh viên Huỳnh Văn Tiểng,Mai Văn Bộ,Lưu Hữu Phước,Trần Bửu Kiếm..

Chỉ riêng tại Sài Gòn,phong trào có hơn 20 vạn người tham gia và phát triển hơn 1 triệu đoàn viên trong toàn cõi Nam Kỳ.Lá cờ của TNTP có nền vàng ,chính giữa là sao đỏ.Ngày 16/8/1945.TNTP tuyên bố gia nhập Việt Minh.

Ở hãng nước mắm Cá Bạc Gò Vấp trong những ngày đầu thành lập phong trào đã có mặt một học sinh 14 tuổi khai thành 17 và hút thuốc,uống rượu sành sỏi để đủ tuổi gia nhập phong trào.Học sinh ấy là cha của tôi.

CON CHÁU SẼ HỎI TA


CON CHÁU SẼ HỎI TA
Kính gửi các Nhà sử học nước ta
Con cháu sẽ hỏi ta về những tháng năm này
Như ta từng hởi cha ông ta về những ngày thủa trước
Tại sao Chu Văn An phải dâng sớ chém bảy gian thần ?
Tại sao ba tộc nhà Ưc Trai mắc họa ?
Sự thật ?...
Sự thật có khi không được ghi trong sử
Nhưng lại được nhân dân chuyên chở đến muôn đời
Con cháu sẽ hỏi ta về những tháng năm này
Như ta từng hỏi cha ông về những ngày thủa trước...
Nha Trang 1988
Thơ Nguyễn Chính

Cứu mạng người bằng một cây kim

Đăng ngày: 05:18 28-08-2010
Thư mục: Tổng hợp Quan trọng.Kính thưa quí vị,


Có thể quí vị đã đọc những dòng chữ này rồi, nhưng chúng tôi muốn trích dịch ra tiếng Việt Nam và phổ biến rộng rãi, trong hy vọng có thể cứu được mạng người trong cơn nguy cấp, khi chờ đợi được các chuyên viên Y-tế săn sóc.

Chỉ cần một ống tiêm thuốc (loại dùng xong rồi phế thải, bằng nhựa), hoặc một cây kim may, là chúng ta có thể cứu mạng một bệnh nhân đang bị chứng tai biến mạch máu não (stroke).

Việc cứu chữa thật đơn giản và dễ dàng một cách lạ lùng, nhưng có thể mang đến những kết quả cũng không kém lạ lùng và hữu hiệu.


Chúng ta chỉ cần một phút để đọc tài liệu này, và các điều ghi trong tài liệu quả là những hướng dẫn tuyệt vời.

Xin quí vị ghi nhớ hoặc lưu giữ tài liệu này để sẵn sàng áp dụng, vì biết đâu, một ngày nào đó, quí vị sẽ dùng đến để cứu sống mạng người.

Cô Irene Liu kể chuyện: 'Cha tôi bị tê liệt và chết sau đó vì ông là nạn nhân của bệnh tai biến mạch máu não.

Ước chi tôi biết được thủ thuật này từ trước. Khi tai biến mạch máu não xảy ra, tất cả những tia huyết quản nhỏ trong não bộ sẽ từ từ vỡ ra sau đó.'

Khi có bệnh nhân bị tai biến mạch máu não, chúng ta phải giữ bình tĩnh, đừng cuống quít.

Điều quan trọng nhất là ĐỪNG BAO GIỜ DI CHUYỂN NẠN NHÂN, bất kỳ là họ đang bị nạn ở đâu. Vì nếu nạn nhân bị di chuyển, các tia huyết quản trong não bộ sẽ vỡ ra. Từ từ giúp bệnh nhân ngồi thẳng dậy, và chúng ta có thể bắt đầu công việc 'rút máu'.

Nếu quí vị có sẵn một ống tiêm thuốc, thì tốt nhất, nếu không thì một cây kim may hay một cây kim gúc, cũng có thể giúp chúng ta được.


1- Trước hết, chúng ta hãy hơ nóng kim bằng lửa (bật lửa, đèn nến) để sát trùng, rồi dùng kim để chích trên mười đầu ngón tay.

2- Chúng ta không cần tìm một huyệt đặc biệt nào cả, chỉ cần chích vào đầu ngón tay, cách móng tay độ một ly (milimet)


3- Chích kim vào cho đến khi có máu rỉ ra.

4- Nếu máu không chảy, nên nặn đầu ngón tay cho đến khi thấy máu nhỏ giọt.

5- Khi máu đã chảy từ cả mười đầu ngón tay, thì chờ vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh dậy.

6- Nếu mồm bệnh nhân bị méo, thì chúng ta phải nắm hai (lỗ) tai của bệnh nhân kéo mạnh, cho đến khi hai tai đều ửng màu đỏ.

7- Châm vào dái tai (ear lobe) hai mũi mỗi bên cho đến khi máu nhỏ giọt từ mỗi dái tai. Sau vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh lại. Chúng ta hãy kiên tâm chờ cho đến khi bệnh nhân hoàn toàn hồi tỉnh và không có một triệu chứng nào khác thường mới mang bệnh nhân đến bệnh viện.

Vì nếu nạn nhân được chuyên chở vào bệnh viện sớm hơn. Có thể những dằn sóc của xe cứu thương sẽ làm cho các mao quản (capillaries) trong não bộ bị vỡ ra. Nếu sau khi đó mà họ còn có thể đi đứng được, thì đúng là do phúc đức của Tổ Tiên họ.

Cô Liu nói tiếp: 'Tôi học cách cứu chữa qua cách làm xuất huyết này từ một Đông y tên Hà Bảo Định (Ha Bu-Ting). Ngoài ra, tôi còn có cơ hội áp dụng phương pháp này nữa. Vì thế nên tôi khẳng định là phương pháp hữu hiệu 100%. Năm 1979, tôi đang dạy tại Đai học Fung-Gaap tại Đài Trung.

Một buổi trưa nọ, tôi đang giảng bài trong lớp, thì một giáo sư khác chạy sổ vào lớp học của tôi, vừa thở vừa nói 'Cô Liu, đến gấp dùm, ông Giám sự của chúng ta đang bị tai biến mạch máu não'.

Tôi chạy lên lầu 3 ngay tức thì và thấy ông Giám sự của chúng tôi là Trần Phúc Tiên, mặt mày nhợt nhạt, tiếng nói ngọng nghịu, và mồm thì méo xệch qua một bên, ông hội đủ tất cả những triệu chứng của một người đang bị tai biến mạch máu não. Tôi bảo một người sinh viên đang thực tập tại Đại học, đến Dược phòng bên ngoài mua cho tôi một ống tiêm, và dùng kim tiêm để châm đầu mười ngón tay của ông Trần, cho đến khi mỗi đầu ngón tay có một giọt máu cỡ hạt đậu. Sau vài phút, mặt ông Trần đã nhuận sắc trở lại, và mắt ông cũng đã bắt đầu có thần. Nhưng mồm ông thì vẫn méo, nên tôi kéo hai tai ông cho đến khi hai tai đều đỏ vì máu đọng, rồi châm vào mỗi bên dái tai hai mũi để hai giọt máu tươm ra.

Khi hai giọt máu hai bên dái tai được rỉ ra, một phép lạ đã xảy ra. Chỉ nội trong vòng từ 3 đến 5 phút, mồm ông ta đã từ từ trở lại hình dạng nguyên thủy, và tiếng nói của ông cũng trở lại bình thường.

Chúng tôi để ông nghỉ ngơi một lúc, rồi rót cho ông một tách nước trà nóng rồi đưa ông đi đến bệnh viện Ngụy Hoa gần đó. Ông nghỉ ngơi tại bệnh viện một đêm, rồi hôm sau lại trở về nhiệm sở làm việc.

Sau đó, mọi việc đều bình thường. Ông không có triệu chứng nào nguy hại sau đó. Trái lại, các nạn nhân của bệnh tai biến mạch máu não thường khó trở lại bình thường, vì các tia máu trong não bộ bị vỡ trong khi xe cứu thương di chuyển họ đến bệnh viện. Kết quả là không thể làm cho họ vãn hồi lại trạng thái cũ.'

Chúng tôi hy vọng là quí vị có thể phổ biến tài liệu này đến với bạn bè và người thân để dùng khi hữu sự.

Web thuốc Nam gia truyền

http://vn.360plus.yahoo.com/thu_ksh?l=f&id=34

Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2011

Trị bệnh tim

Tâm trạng: Vui vẻTrị bịnh tim. Đăng ngày: 11:51 06-04-2011
Thư mục: Tổng hợp Quan trọng. Trị bệnh tim miễn phí và có kết quả ở đâu?
Thưa các vị,
Trong họ hàng thân thuộc,anh em và chính bản thân của quí vị có các vấn đề liên quan đến bệnh tim.Trị làm sao cho dứt điểm và không tốn kém trong thời bão giá là câu trả lời nan giải.
Mục đích bài này nhằm giải quyết thông tin cho các vấn đề liên quan vừa nêu.
Chỉ là một sự tò mò và tình cớ mà tôi được biết ở vùng Cầu Lẫm thuộc khu vực Núi Sam Châu Đốc có thầy Sáu Quang chuyên trị bệnh tim miễn phí.Miễn phí đúng nghĩa vì bản thân thầy cũng đã bị bệnh tim và do thiên cơ nào đó mà thầy hết bệnh và thầy trị bệnh cứu người khác như một cơ chế tái tục của luật nhân quả.
Liên hệ số di động 0985950089 tôi sẽ chỉ đường đi.Hoàn toàn vì tâm.
Thân ái.



Thứ Tư, 24 tháng 8, 2011

Vai trò quốc phòng toàn dân của lực lượng Hải quân


Trong các triều đại phong kiến,việc xây dựng một quân đội hùng mạnh,thiện chiến và có tổ chức phải kể đến nhà Lý.Trong thời Lý,quân đội đã "Bình Chiêm ,đánh Tống,chống Khmer" một cách xứng đáng lưu danh sử sách.

Lực lượng quốc phòng lúc ấy giữ vai trò rất quan trọng trong việc củng cố nhà nước về mặt đối ngoại.Quân đội được tổ chức gồm những binh chủng: bộ ,thủy,kỵ và tượng binh.Vũ khí lúc ấy chỉ có kiếm,dáo,mác,khiên và máy bắn đá..

Tất cả nam thanh niên tuổi từ 18 đều phải gia nhập quân đội chính qui,nhưng vẫn được ở nhà cày bừa,đánh bắt ..Mỗi tháng mới đi trực chiến 1 thời gian ngắn rồi về làm ăn như cũ.Chính sách này gọi là "Ngụ binh ư nông"

Sau khi chiến tranh chia cắt Việt Nam chấm dứt,có những quân binh đoàn chuyển sang làm kinh tế cũng là 1 hình thức "Ngụ binh ư nông".Để bảo vệ biên giới phía Bắc và Tây Nam trước đây,các nhà hoạch định quân sự Việt Nam đã đánh vào Kampuchia trước nhằm cảnh cáo nước này đã dựa vào Trung Hoa.Chính quyền Pôn Pốt thân Trung hoa đã cắt đứt tình bè bạn láng giềng ,đồng chí đem quân đánh sâu vào các tỉnh Tây Ninh và An Giang của Việt Nam,tàn sát cả thường dân vào năm 1977.

Sau khi quân đội Việt Nam tấn công đối thủ sang tận Nam Vang,phát triển quân đội trên toàn cõi Kampuchia,thanh thế của Việt Nam khiến Trung Hoa lo ngại.Nếu ngày 7 tháng 1 năm 1979,quân Việt Nam tiến vào Nam Vang thì ngày 17 tháng 2 năm 1979 quân đội Trung Hoa đã tấn công trên biên giới phía Bắc Việt Nam" để phòng thủ" trước 1 đối thủ đáng gờm,đồng thời chia lửa cho quân Pôn Pốt đã bị quét khỏi các thành phố,thị trấn lớn

Quân Trung Hoa cũng biết ta hiếp quân Pôn Pốt để dọa Trung Hoa,nên trận chiến 1979 là một trận chiến thăm dò để"biết người biết ta"với quân đội Trung Hoa.Từ sau trận chiến này,quân đội Trung Hoa đã gần như cải cách toàn diện từ chiến lược ,chiến thuật đến hiện đại hóa khí tài quân sự.Các căn cứ hải quân và các tàu ngầm,chiến hạm ngày càng phát triển,nay đã vươn tới vùng biển Somali để "chống hải tặc".

Về phần Việt Nam,nên hay không nên có một pháp lệnh bắt buộc mọi ngư phủ phải có "bằng cấp bơi lặn" khi đi biển , như vẫn thường buộc người ta phải đội mũ bảo hiểm khi ra đường vậy.Chuyện như đùa,nhưng cái đùa lúc này có thể có ích sau này khi có một cuộc chiến tranh trên biển nổ ra,những con người này sẽ là lực lượng dự bị tinh nhuệ trên chiến trường nước.

Không hẳn những ngư phủ đều biết bơi lặn,phần lớn họ xuất thân từ các vùng nông thôn trong nội địa.Họ tìm về hướng biển với hy vọng đổi đời,tránh xa những đồng tiền công rẻ mạt nơi ruộng đồng.Họ sẽ là một lực lượng chủ công trên biển,nếu ta biết dùng họ

Tại sao khi đối mặt với quân ta ở biên giới phía Bắc quân Trung Quốc năm 1979,quân Trung Quốc hành tiến rất chậm dù có yểm trợ của xe tăng và pháo binh?Họ đã đối mặt với môt thế trận chiến tranh nhân dân trên một chiến trường rừng núi đặc trưng của vùng biên giới.Nơi đây là cộng đồng các sắc tộc Tày,Nùng,Dao...quen sống giữa thiên nhiên,núi rừng với những khẩu súng tự tạo để giữ gìn nương rẫy.Rừng núi như. trong lòng bàn tay của họ mà không cần phải bản đồ,địa bàn định hướng.Khi được trang bị những khẩu súng hạng nhẹ họ dễ dàng phát huy tác xạ có kinh nghiệm chính xác bắn tỉa hàng nhiều năm.Mỗi phát đạn là một tên địch .

Trong lịch sử giữ nước,không phải không có những chiến công trên mặt nước.Thời nhà Trần còn ghi nhận chiến công của Trận Bạch Đằng,và dũng sĩ chuyên đục thuyền giặc là Yết Kiêu.Hải quân Việt Nam hiện nay gần như có vai trò không mấy ấn tượng trong việc giữ gìn bờ cõi.Tại sao?Nếu binh pháp Tôn Tử dạy quân Trung Quốc"công kỳ bất bị,xuất kỳ bất ý ",thì cũng dạy cho quân ta"lấy đoản chế trường,lấy ít địch nhiều".Từ ngàn đời nay ta vẫn lấy yếu chống mạnh để giữ bờ cõi đấy.Đừng quan niệm rằng quân Trung Quốc nhát gan,không có chiến lược chiến thuật và cơ trí.Các cuộc nội chiến thời cổ đại như thời nhà Chu,thời Tam Quốc phân tranh ,ít nhiều bổ sung cho khoa học quân sự Trung Quốc những kinh nghiệm đáng kể.Chiến tranh biên giới năm 1979 thật ra chỉ là một cuộc diễn tập để hiện đại hóa quân đội của họ.

Lịch sử hơn 4000 năm dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam cũng là hơn 4000 năm của đấu tranh chống ngoại xâm và hòa bình luôn chuẩn bị cho chiến tranh.Và điều đặc biệt là trong những cơn nguy nan của dân tộc trước họa diệt vong luôn sản sinh ra những nhân tài.Dấu ấn lịch sử còn ghi nhận những lời hiệu triệu của Ngô Quyền,Lý Thường Kiệt,Trần Hưng Đạo...và gần đây với lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh."Chúng ta muốn hòa bình,chúng ta phải nhân nhượng.Nhưng chúng ta càng nhân nhượng,thực dân Pháp càng lấn tới,vì chúng quyết tâm cướp đất nước ta lần nữa!Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước,nhất định không chịu làm nô lệ".Chúng ta nghĩ gì khi trong một trường đại học ở nước ngoài,một sinh viên Trung quốc bị sinh viên Việt Nam đánh hội đồng chỉ vì anh ta nói "Nước tụi mày chỉ là một tỉnh của tao.Đó chính là tính độc lập,là bản sắc dân Việt.

Trở lại thực tế,vào ngày 15/4,năm Minh Mạng thứ 15,{năm At Mùi 1835}sắc chỉ của vua giao cho ông Võ Văn Hùng ở đảo Lý Sơn,chọn những thanh niên khỏe mạnh và giỏi nghề bơi lặn để tuyển mộ vào đội thuyền,giao cho ông Đặng Văn Siểm làm người dẫn đường,giao cho ông Võ Văn Công phụ trách hậu cần với 3 chiếc thuyền và 24 lính thủy ra đảo Hoàng Sa.

Ngay từ năm 1701,nhật ký trên tàu Amphitritexác nhận quần đảo Hoàng sa là của An Nam,sau đó là An Nam Đại Quốc Họa Đồ của giám mục Tabert năm 1838 cũng xác định Hoàng Sa thuộc chủ quyền An Nam.Nếu các minh chứng lịch sử ấy mang tính thuyết phục cao mà Trung Quốc vẫn mang hải quân xâm lược năm 1974 mà vẫn mặc nhiên được cộng đồng quốc tế gián tiếp công nhận thì liệu sự kiện này có là một tiền lệ nguy hiểm cho hòa bình thế giới không?

Nghị quyết 1514 ngày 14/12/1960 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về việc trao trả nền độc lập cho các nước và các đân tộc thuộc địa đã viết: "Mọi hành động vũ trang và mọi biện pháp đàn áp, bất kể thuộc loại nào, chống lạỉ các dân tộc phụ thuộc sẽ phải được chấm dứt để các dân tộc đó có thể thực hiện quyền của họ về độc lập hoàn toàn một cách hoà bình và tự do và toàn vẹn lãnh thổ của họ sẽ được tôn trọng".Nghị quyết 26/25 năm 1970 của Liên Hợp Quốc lại viết: "Các quốc gia có nghĩa vụ không được dùng đe doạ hoặc dùng vũ lực để xâm phạm các đường biên gỉới quốc tế hiện có của một quốc gia khác hoặc như biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan đến các biên giới của các Quốc gia".Mọi hành động thụ đắc lãnh thổ bằng đe doạ hoặc bằng sử dụng vũ lực không được thừa nhận là hợp pháp".

Theo những tài liệu hiện có thì triều đình Việt Nam quan tâm chỉ đạo vấn đề biên giới - lãnh thổ từ khoảng thế kỷ thứ 10 sau khi giành lại quyền độc lập tự chủ với chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938 và ngày càng củng cố nền độc lập tự chủ đó.Theo Tống sử, Tông Cảo sứ giả nhà Tống được phái sang nước ta năm 990 sau chiến thắng Bạch Đằng lần thứ hai năm 981 đã báo cáo rằng khi họ đến "hải giới Giao Chỉ" thì Lê Hoàn (Vua Lê Đại Hành) đã phái 9 chiến thuyền và 300 quân lên đón và dẫn họ đến địa điểm quy định. Trong cuốn Lĩnh ngoại đại đáp (1178), Chu Khứ Phi một viên quan nhà Tống ở Quảng Đông, Quảng Tây đã viết rằng: dòng nước Thiên Phân Dao là định giới giữa 'bíển Giao Chỉ" và biển Quỳnh - Liêm (tức vùng biển Quỳnh Châu, Liêm Châu của Trung Quốc).Như vậy là ngay từ thế kỷ thứ 10 và 12 , sứ thần Trung Quốc và quan lại Trung Quốc đã biết đâu là vùng biển Giao Chỉ (tức Việt Nam), đâu là vùng biển Trung Quốc.Trong thế kỷ 11 đã diễn ra một số cuộc đàm phán biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc để đòi lại những vùng đất mà Trung Quốc còn chiếm, sau khi phải rút quân trong cuộc chiến tranh xâm lược năm 1076-1077, cuộc chiến tranh đã xuất hiện 4 câu thơ của Lý Thường Kiệt mà hai câu đầu khẳng định chủ quyền lãnh thổ.

Nam Quốc sơn hà nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

(Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời)

Trong các cuộc đàm phán đó có cuộc đàm phán về biên giới năm 1078 do Đào Tòng Nguyên dẫn đầu và cuộc đàm phán năm 1084 do Trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh dẫn đầu. Trong thư gửi cho vua nhà Tống đòi đất, vua Lý Nhân Tông viết: "Mặc dầu những đất ấy nhỏ bé nhưng vẫn khiến lòng tôi đau sót luôn luôn nghĩ đến cả trong giấc mộngNgoài việc dùng quân sự đánh úp, giải phóng Châu Quang Lang, ngay sau khi đại quân Tống rút lui, đấu tranh kiên trì của triều đình kết hợp với đấu tranh của nhân dân: bắn lén, bỏ thuốc độc cộng thêm khí hậu khắc nghiệt, khiến cho, theo Tống sử, đội quân đồn trú của nhà Tống mỗi năm tổn thất 70%-80% và năm 1079 mặc dầu đã đổi tên Châu Quảng Nguyên thành Thuận Châu vẫn đành coi là vùng "Đất độc" và trả lại cho ta và năm 1084 trả lại cho ta vùng Bảo Lạc, Túc Tang. Khi đi đàm phán biên giới, sứ thần ta đã tặng cho nhà Tống 5 thớt voi khiến cho, theo Đại việt sử ký toàn thư, người Tống có thơ rằng "Nhân tham Giao Chỉ tượng, khước thất Quảng Nguyên kim" nghĩa là vì tham voi của Giao Chỉ mà bỏ mất vàng của Quảng Nguyên (họ đã đánh giá sai nguyên nhân dẫn đến việc trả lại đất).

Trên đây chỉ là một vài mảng yếu tố lịch sử có căn cứ về độc lập và chủ quyền của Việt Nam.Vậy vấn đề chính là làm sao để bảo vệ chủ quyền và độc lập trên vùng biển và đảo kéo dài hàng ngàn cây số?

Các tài công của tàu điều khiển tàu trên sông biển hiện nay đều có Chứng chỉ bơi lặn của Phòng thể dục thể thao theo qui định.Các nhân viên công lực tuần kiểm tra sông biển có nên buộc phải có Chứng chỉ bơi lặn này không?Và các ngư phủ trên sông biển có cần phải có Chứng chỉ này không?Trả lời câu hỏi và quyền quyết định này không là chức năng,trách nhiệm của các thuộc cấp.Trên thực tế đã có nhân viên công quyền như công an đường thủy bị chết đuối khi làm nhiệm vụ,rồi phải kể đến những cuộc tấn công của hải tặc vào ngư dân và cả lực lựơng kiểm ngư.Đó là chưa kể gần đây ngư dân Việt Nam bị "tàu lạ" đâm phải gây thiệt hại về người và của.

Thời nhà Thanh của Trung Quốc bị Bát quốc liên quân tấn công vì họ có vũ khí hiện đại hơn mà đáng kể nhất là một lực lượng hải quân thực dân hùng hậu.Nhờ lực lượng hải quân này các nước thực dân đã chinh phục gần như hầu hết các thuộc địa ở khắp các Châu Lục.Đáng kể nhất là đế quốc Anh với câu nói đã đi vào lịch sử "Mặt trời không bao giờ lặn trên đế quốc Anh."

Quá muộn khi Trung Quốc đang hiện đại hóa lực lượng hải quân nhân dân của họ vì những vấn đề nôi bộ .Song vẫn còn sớm để họ lưu ý tới các cường quốc quốc tế đã từng dùng hải quân đem người tới xâu xé đất nước họ.Ta có nên học hỏi theo nước bạn trong việc xây dựng ,củng cố và hiên đại hóa lực lượng hài quân nhân dân Việt Nam theo hướng tích cực không?

Vấn đề tuy đơn giản nhưng phức tạp về ngân sách.Trung Quốc cũng đã trải qua thời kỳ ấy,với dân số kỷ lục thế giới ấy và ảnh hưởng của họ hiện nay là hầu như gần khắp các lục địa mà điển hình là Phi Châu.Đúng như vậy.Họ bảo vệ tàu hàng của họ cả trên vùng biển Somali.
Đầu tư vào lục địa Châu Phi của họ thời điểm này là gần 50 tỉ USD.
Hiện tượng đáng ghi nhận hơn là sự ráo riết hạ thủy chiếc tàu ngầm đầu tiên của lực lượng Hải quân Trung Quốc.
Tại sao Trung Quốc có yêu cầu phát triển về hải quân nhanh và mạnh như vậy?Câu hỏi này được đặt ra không chỉ riêng với các nước có vùng biển tiếp giáp và lân cận với Trung Quốc mà còn là câu hỏi của các cường quốc biển trên thế giới.Việt Nam cũng là một nước nằm trong tập hợp ấy và mặc nhiên việc củng cố,hiện đại hóa lực lượng Hải quân Việt Nam là một yêu cầu tất yếu.